Sơ lược một vài tính năng mới của trình duyệt Internet Explorer bản beta 2 mới ra lò:
Thanh địa chỉ thông minh Smart Address Bar:
The Smart Address Bar cho phép bạn tìm kiếm nội dung, tiêu đề, địa chỉ của các trang web được lưu trong history của trình duyệt bằng cách gõ trực tiếp vào thanh địa chỉ một vài ký tự. Kết quả sẽ được sắp xếp và cụm từ tìm kiếm sẽ được hiển thị nổi bật so với các vùng khác.
Thanh công cụ Favourite Bar:
Bạn có thể thêm các trang web ưa thích, feed, Web Slices và các thư mục vào trong thanh Favourite Bar chỉ với 1 click duy nhất. Mỗi khi trang web có nội dung mới chúng sẽ được tô đậm giống như là những email chưa đọc vậy, nó báo hiệu cho bạn rằng có cái mới để xem.
Nhóm các tab:
Khi bạn xem một trang web, bạn mở rất nhiều link trên trang này dưới dạng các tab mới, các tab này sẽ được nhóm lại và chúng có cùng màu tab để bạn dễ dàng phân biệt và đọc được các nội dung liên quan khi mà bạn mở rất nhiều tab trên cùng 1 cửa sổ trình duyệt. Khi bạn đóng 1 tab trong nhóm, IE sẽ mở tab kế tiếp ở cùng nhóm đó cho bạn.
Tìm kiếm trên trang
Khắc phục sự thiếu thuận tiện của hộp thoại tìm kiếm trong IE6 và IE7, giờ đây IE8 được trang bị thanh tìm kiếm ở ngay trên đầu trang web giúp bạn dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm nội dung trên trang.
Hộp tìm kiếm với khả năng gợi ý:
Khi bạn gõ vào hộp tìm kiếm, IE sẽ thực hiện tìm kiếm ngay lập tức và hiển thị các kết quả gợi ý cho bạn, các kết quả này có thể có cả hình ảnh minh họa
Tính năng tăng tốc Accelerators:
Tính năng này cung cấp cho bạn các lựa chọn thao tác đối với một vùng được bôi đen trên trang web, bạn có thể lưu lại, tìm kiếm, xem trước, tra từ hoặc gửi email...
Web Slices:
Web Slices giúp bạn cập nhật trực tiếp các thông tin quan trọng ngay trên Favorites bar, Web Slice là khả năng theo dõi sự thay đổi của một vùng cụ thể trên 1 trang web, khi vùng đó có sự thay đổi IE8 sẽ tô đậm tiêu đề của Web Slice đó, nhờ đó bạn có thể cập nhật thông tin mình cần mà không cần phải vào trực tiếp trang web đó.
Hiển thị Feed ngay trên Favourite bar:
Gợi ý site để duyệt web
Bạn chán việc ngày nào cũng vào các trang quen thuộc, bạn có thể bật tính năng Suggested Sites, IE sẽ dựa trên thông tin về các site mà bạn hay truy cập để gợi ý cho bạn những trang có nội dung liên quan ngay trên Favourite bar.
Download IE8 beta 2
IE8 beta 2 có tính năng gì mới?
Các trang web gửi email nặc danh
Một số trang web cho phép gửi email nặc danh:
www.note2email.com
www.sendanonymousemail.net
cyberatlantis.com
deadfake.com
www.anonymailer.net
www.anonysend.110mb.com
www.mailfreeonline.com
zerovn.net
Phân biệt portal với một ứng dụng web
Hiện tại trên thị trường có khá nhiều giải pháp hoặc sản phẩm portal, mỗi sản phẩm có một sắc thái riêng, sử dụng công nghệ riêng, phụcvụ cho đối tượng riêng, ... và vô hình chung sự "đa dạng" này dẫn tới tình trạng khó chọn lựa một giải pháp phù hợp với nhu cầu cụ thể. Vì vậy, bài viết này nhằm mục đích cung cấp một cách thức phân biệt giữa giải pháp portal với một ứng dụng web hay một phần mềm quản trị nội dung, từ đó bạn có thể lựa chọn giải pháp phù hợp của nhiều nhà cung cấp, đảm bảo việc ứng dụng CNTT với portal là đúng hướng, mà không giới hạn portal phải theo một công nghệ nào.
Trước hết, cần lưu ý là mỗi portal được phát triển mới hoặc cung cấp từ những hệ thống có bản quyền thương mại đều tập trung giải quyết một lớp vấn đề nghiệp vụ cụ thể và thực tế, vì vậy không phải mọi tính năng về portal đều phải có trên portal mà bạn muốn kiểm nghiệm.
Lưu ý thứ hai là các tiêu chí được sử dụng để đánh giá nhằm phân biệt giữa portal với một ứng dụng web hay hệ thống quản trị nội dung là các tính năng bắt buộc phải có đối với một portal như đã giới thiệu trong bài viết về khái niệm portal.
Lưu ý thứ ba là bài viết này không có ý định đánh giá đối với những sản phẩm portal thương mại nổi tiếng trên toàn thế giới như IBM WebSphere Portal, ExoPortal, BEA Portal, Oracle Portal, ... mà phù hợp để sử dụng đánh giá các sản phẩm/giải pháp portal ở thị trường Việt Nam (do các doanh nghiệp Việt Nam phát triển hoặc triển khai).
Các bước phân biệt/đánh giá
1. Khả năng cá nhân hoá (Personalization)
Để đánh giá tính năng này, bạn cần yêu cầu nhà cung cấp trình diễn hoặc giới thiệu cách thức hệ thống cung cấp thông tin cho nhiều người dùng khác nhau hoặc nhiều cấp độ người dùng khác nhau. Tại đây có thể có nhiều kết quả khác nhau, như:
Nếu với 2 người dùng khác nhau hoặc với 2 cấp độ sử dụng (quyền) khác nhau và thông tin hiển thị vẫn giống nhau, thì bạn có thể kết luận ngay rằng hệ thống này không có phép cá nhân hoá thông tin, và có thể đi đến kết luận cuối cùng rằng đó không phải là hệ thống portal.
Nếu với 2 cấp độ khác nhau, thông tin được sử dụng có sự khác nhau thì có thể đi đến kết luận hệ thống này cho phép cá nhân hoá thông tin theo thẩm quyền sử dụng.
2. Khả năng tích hợp nhiều loại thông tin (Content aggregation):
Đây là một đặc tính quan trọng bậc nhất của hệ thống portal, đặc tính này thể hiện portal có thể mở rộng được hay không. Đặc tính này thể hiện qua thuật ngữ "ghép là chạy", có nghĩa là khi cần mở rộng thêm thành phần (module) dịch vụ mới, thì chỉ cần điều chỉnh và tích hợp lại thông tin của module dịch vụ đó một cách đơn giản, nhanh chóng và tức thì đối với hệ thống mà không phải biên dịch lại hoặc viết lại mã chương trình.
Để kiểm định tính năng này, bạn hãy yêu cầu nhà cung cấp trình diễn hoặc giới thiệu cách thức hệ thống tích hợp thông tin từ nhiều module dịch vụ khác nhau của hệ thống, ví dụ như hiển thị một nội dung bài viết trong một màn hình, bên cạnh đó là danh sách các chủ đề thảo luận trong forum. Tại đây có thể có nhiều kết quả khác nhau, như:
Nếu nhà cung cấp khi bổ sung ứng dụng/dịch vụ vào portal mà phải “bẻ” mã (code) của website ra để viết thêm module về màn hình, các liên kết trang, các truy cập cơ sở dữ liệu mới, một hệ thống phân quyền sử dụng mới, v.v... thì hệ thống đó không gọi là có tính mở được, vậy kết luận là hệ thống không có khả năng tích hợp ứng dụng theo kiểu “ghép là chạy”, và có thể kết luận ngay hệ thống đó không phải là giải pháp portal.
Nếu hệ thống cho phép "ghép" các ứng dụng lại với nhau, bạn hãy yêu cầu nhà cung cấp thay đổi nguồn hoặc kênh thông tin của các ứng dụng đã tích hợp, nếu không thế thì kết luận "đó là hệ thống giả portal" chứ không phải là giải pháp portal.
Nếu có thể tích hợp thêm ứng dụng dịch vụ, loại bỏ ứng dụng dịch vụ cũ thì kết luận hệ thống có tính năng mở, có thể tích hợp được ứng dụng và có thể là giải pháp portal.
3. Khả năng xuất bản thông tin theo tiêu chuẩn (Content syndication):
Một trong những đặc tính quan trọng của portal là xuất bản thông tin cho người dùng cuối qua các tiêu chuẩn đã được công bố và thừa nhận trên toàn thế giới. Với các dữ liệu được xuất bản theo tiêu chuẩn này, người dùng cuối có thể khai thác, sử dụng mà không cần thông qua giao diện tương tác của hệ thống mà sử dụng một số phần mềm của hãng thứ 3.
Hiện tại có nhiều chuẩn xuất bản thông tin, nhưng tất cả các chuẩn xuất bản thông tin được ủng hộ và sử dụng nhiều nhất trên thế giới đều lấy cơ sở ngôn ngữ đánh dấu mở rộng XML (eXtensible Markup Language) làm nền tảng, đáng kể là RDF (Resource Description Format), RSS (Realy Simple Syndication), NITF (News Industry Text Format), NewsML và ATOM Syndication Format. Hiện tại có 2 tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi nhất là RSS và ATOM.
Để kiểm định tính năng này, bạn hãy yêu cầu nhà cung cấp trình diễn hoặc giới thiệu cách thức hệ thống xuất bản thông tin từ một hoặc nhiều module dịch vụ khác nhau thành các tài liệu theo tiêu chuẩn RSS hoặc ATOM. Tại đây có thể có nhiều kết quả khác nhau, như:
Nếu nhà cung cấp không có khái niệm gì về RSS hay ATOM, thì có thể kết luận ngay rằng hệ thống của nhà cung cấp này không có khả năng xuất bản thông tin theo tiêu chuẩn.
Nếu hệ thống có thể xuất bản tài liệu ra tiêu chuẩn RSS, nhưng cần phải "bẻ" mã chương trình ra chỉnh sửa lại thì có thể kết luận hệ thống có khả năng xuất bản thông tin với chuẩn nhưng không phải là portal.
Nếu có khả năng xuất bản ngay tức thì nội dung thành RSS, bạn hãy yêu cầu xuất bản thông tin có đầy đủ nội dung chứ không chỉ tóm tắt như tài liệu RSS đã cung cấp, nếu nhà cung cấp không thể làm được hoặc không thể đưa ra được hướng giải quyết cụ thể thì có thể kết luận rằng hệ thống có khả năng xuất bản thông tin theo tiêu chuẩn nhưng chưa đầy đủ.
Nếu hệ thống cho phép xuất bản thành RSS và ATOM, chứa đầy đủ nội dung thông tin thì có thể kết luận hệ thống có khả năng đầy đủ để xuất bản thông tin với tiêu chuẩn công nghiệp.
Nếu nhà cung cấp đưa ra được giải pháp đồng bộ dữ liệu giữa nhiều hệ thống bằng tài liệu theo tiêu chuẩn như ATOM hay SSE (Simple Sharing Extension for ATOM and RSS) thì có thể kết luận rằng đó là hệ thống rất mạnh trong xuất bản thông tin.
4. Hỗ trợ nhiều môi trường hiển thị thông tin (Multidevice support):
Đây là một tính năng phụ nhưng khá quan trọng vì với xu thế hiện tại, người sử dụng có thể dùng nhiều loại thiết bị để truy cập hệ thống tại nhiều địa điểm khác nhau.
Để kiểm định tính năng này, bạn hãy yêu cầu nhà cung cấp trình diễn hoặc giới thiệu nội dung được hiển thị trên thiết bị cầm nay như PDA, Pocket PC, iPhone, Nokia 9500, ... Nếu không thể hiển thị được trên các thiết bị này, có thì kết luận là hệ thống không hỗ trợ hiển thị dữ lilệu ở môi trường và thiết bị khác nhau.
5. Khả năng đăng nhập một lần (Single Sign On - SSO):
Tính năng này là một trong các tính năng tối quan trọng của giải pháp portal, vì số lượng người dùng và dịch vụ ứng dụng sẽ tăng dần theo thời gian. Khi hệ thống cung cấp tính năng này, người sử dụng chỉ cần đăng nhập đúng một (01) lần duy nhất khi bắt đầu sử dụng hệ thống, mỗi khi dịch chuyển giữa các màn hình làm việc hoặc các module nghiệp vụ thì không cần phải đăng nhập lại, và khi đó các thành phần của hệ thống phải tự nhận biết được đó là người sử dụng nào, thẩm quyền đến đâu.
Để kiểm định tính năng này, bạn hãy yêu cầu nhà cung cấp trình diễn hoặc giới thiệu cách thức đăng nhập hệ thống, sau đó sử dụng ít nhất là 3 module n ghiệp vụ (ví dụ: quản trị nội dung, diễn đàn, chia sẻ tài liệu). Tại đây có thể có nhiều kết quả khác nhau, như:
Nếu mỗi khi dịch chuyển sang các module nghiệp vụ mới, người dùng phải đăng nhập lại thì kết luận hệ thống không hỗ trợ khả năng SSO, và đây không phải là giải pháp portal.
Nếu khi dịch chuyển giữa các module nghiệp vụ vẫn xác định được người dùng, bạn hãy đăng xuất (thoát - sign out/log out) và quay về sử dụng một module nghiệp vụ khác, nếu thấy hệ thống vẫn nhận ra người dùng (mặc dù đã sign-out) thì có thể kết luận đó là hệ thống giả lập tính năng SSO, và đó không phải là giải pháp portal.
Nếu đăng nhập và đăng xuất đều tốt (không bị lỗi trong 2 tình huống trên), thì có thể kết luận hệ thống có hỗ trợ SSO. Khi đó bạn hãy yêu cầu điều hướng sử dụng sang một tên miền khác đang dùng chính hệ thống này, nếu vẫn giữ được thông tin đăng nhập thì kết luận là đã hỗ trợ SSO tốt, nếu không thì kết luận là hỗ trợ SSO chưa tốt.
Đồng thời, bạn hãy yêu cầu nhà cung cấp kết nối với hệ thống quản trị người dùng chuyên nghiệp với tiêu chuẩn LDAP để xác thực người dùng (ví dụ: đăng nhập bằng tài khoản của Microsoft Windows Domain của chính doanh nghiệp bạn), nếu không thể thực hiện thì kết luận rằng tính năng SSO chưa toàn vẹn, nếu được thì khẳng định tính năng SSO đã rất tốt.
Chú ý rằng tính năng này rất quan trọng nếu bạn có ý định triển khai hệ thống thông tin trong nội bộ doanh nghiệp, nếu với mỗi một module dịch vụ hoặc hệ thống riêng rẽ mà phải dùng tài khoản riêng, thì đó là "ác mộng" đối với tất cả các người dùng trong tổ chức của bạn.
6. Khả năng quản trị portal (Portal administration):
Tính năng này xác định cách thức hiển thị thông tin cho người dùng cuối với nhiều cách thức và nguồn khác nhau. Tính năng này không chỉ đơn giản là thiết lập các giao diện người dùng với các chi tiết đồ hoạ (look-and-feel), với tính năng này người quản trị phải định nghĩa được các thành phần thông tin, các kênh tương tác với người sử dụng cuối, định nghĩa nhóm người dùng cùng với các quyền truy cập và sử dụng thông tin khác nhau.
Để kiểm định tính năng này, bạn hãy yêu cầu nhà cung cấp trình diễn hoặc giới thiệu cách thức điều chỉnh các màn hình hiển thị thông tin, tạo lập các nguồn thông tin khác nhau với nhiều thẩm quyền sử dụng thông tin.Tại đây có thể có nhiều kết quả khác nhau, như:
Nếu nhà cung cấp phải “bẻ” mã (code) của hệ thống ra thì mới điều chỉnh hoặc bổ sung được các nguồn thông tin hay màn hình hiển thị thì có thể kết luận ngay hệ thống đó không phải là giải pháp portal.
Nếu hệ thống cho phép điều chỉnh được, bạn hãy yêu cầu thay đổi các vị trí hiển thị của các khối thông tin, thay đổi các nội dung sẽ hiển thị trong một vài khối thông tin, nếu khi đó nhà cung cấp lại bắt buộc phải sửa mã chương trình thì kết luận ngay rằng hệ thống không có khả năng và đó không phải là giải pháp portal. Nếu được thì kết luận đó hệ thống có khả năng cho phép nhà quản trị thay đổi thông tin, nguồn tin, ... khi cần.
7. Khả năng quản trị người dùng (Portal user management):
Tính năng này cung cấp các khả năng quản trị người dùng cuối, tuỳ thuộc vào đối tượng sử dụng của hệ thống. Tại đây, người sử dụng có thể tự đăng ký trở thành thành viên hoặc được người quản trị tạo lập và gán quyền sử dụng tương ứng. Đồng thời, hệ thống phải hỗ trợ và tích hợp công việc quản trị và xác thực người dùng bằng tiêu chuẩn công nghiệp LDAP. Mặt khác, phân quyền sử dụng phải mềm dẻo và có thể thay đổi được khi cần.
Để kiểm định tính năng này, bạn hãy yêu cầu nhà cung cấp trình diễn hoặc giới thiệu cách thức đăng ký tài khoản hoặc người quản trị tạo lập tài khoản sử dụng mới trong hệ thống, tạo lập các nhóm quyền sử dụng và gán các quyền sử dụng này cho thành viên. Tại đây có thể có nhiều kết quả khác nhau, như:
Việc đăng ký tài khoản mới hoặc tạo lập tài khoản mới rất đơn giản, nhưng không thể tạo lập các nhóm quyền sử dụng mới mà chỉ dùng được các nhóm quyền sử dụng sẵn có của hệ thống, thì kết luận hệ thống không hỗ trợ khả năng quản trị người dùng, và đây không phải là giải pháp portal.
Nếu việc đăng ký/tạo tài khoản mới và tạo lập các nhóm sử dụng mới suôn sẻ, hãy yêu cầu nhà cung cấp gán quyền sử dụng nào đó trong một module nghiệp vụ cụ thể với nhóm người sử dụng này. Sau khi thực hiện xong, người sử dụng mới không thể khai thác được theo quyền đã được cấp thì kết luận hệ thống không thực sự hỗ trợ quản trị người dùng vì đó chỉ là "giả lập", và khi đó hệ thống này không thể gọi là portal được. Nếu tất cả đều hoạt động tốt, kết luận là đã hỗ trợ tốt tính năng quản trị người dùng.
Nếu đã hỗ trợ tốt tính năng quản trị người dùng, hãy yêu cầu nhà cung cấp điều chỉnh là cấu hình để hệ thống kết nối với hệ thống quản trị người dùng chuyên nghiệp với tiêu chuẩn LDAP, sử dụng hệ thống LDAP này để xác thực người dùng (ví dụ: đăng nhập bằng tài khoản của Microsoft Windows Domain của chính doanh nghiệp bạn), nếu không thể thực hiện thì kết luận rằng tính năng quản trị người dùng chưa hỗ trợ tiêu chuẩn công nghiệp, nếu thực hiện được ngay thì kết luận hệ thống đã hoàn thiện trong tính năng quản trị người dùng.
Kết luận
Nếu hệ thống chỉ thoả mãn từ 5 tính năng nêu trên trở xuống (thoả mãn 5 hoặc thoả mãn ít hơn 5 tính năng) thì kết luận đó là ứng dụng web hoặc phần mềm quản trị nội dung chứ không phải là giải pháp portal.
Nếu thoả mãn 6 tính năng 1,2,3,5,6,7 mà không thoả mãn tính năng 4 (support multi-device) thì kết luận đó thực sự là giải pháp portal, và có ghi chú kèm bên cạnh là sử dụng tối ưu trên máy tính.
Nếu thoả mãn tất cả cả 7 tính năng trên, thì đó thực sự là giải pháp portal và có khả năng hoạt động trên nhiều môi trường/thiết bị khác nhau.
Quỳnh Nguyễn, Giám đốc điều hành
Công ty CP Phần mềm Hà Nội
Nguồn: www.hanoisoftware.com
zerovn.net
Định nghĩa chuẩn về Portal - Cổng thông tin điện tử
Bài viết này xin giới thiệu một khái niệm về portal để quý vị có cái nhìn tổng quát về một hệ thống cổng thông tin điện tử tích hợp (portal) là gì, có những tính năng cơ bản nào và có thể phục vụ cho hoạt động điều hành và cung cấp thông tin ra sao.
Khái niệm cổng thông tin (portal)
Có nhiều khái niệm/định nghĩa về cổng thông tin điện tử tích hợp khác nhau, và cho đến nay chưa có khái niệm/định nghĩa nào được coi là chuẩn xác. Trong phạm vi này, chúng ta tạm sử dụng khái niệm sau cho cổng thông tin điện tử tích hợp (portal):
“Cổng thông tin điện tử tích hợp là điểm truy cập tập trung và duy nhất, tích hợp các kênh thông tin, các dịch vụ và ứng dụng, phân phối tới người sử dụng thông qua một phương thức thống nhất và đơn giản trên nền tảng Web”
Phân loại cổng thông tin
Cổng thông tin cung cấp cho người dùng cuối nhiều loại dịch vụ khác nhau với nhiều nhu cầu khác nhau, có thể phân loại các công thông tin (portal) như sau:
Cổng thông tin công cộng (Public portals): ví dụ như Yahoo, loại cổng thông tin này thường được sử dụng để ghép nối các thông tin lại với nhau từ nhiều nguồn, nhiều ứng dụng và từ nhiều người, cho phép cá nhân hoá (personalization) các website theo tuỳ từng đối tượng sử dụng.
Cổng thông tin doanh nghiệp (“Enterprise portals” hoặc “Corporate Desktops”): được xây dựng để cho phép các thành viên của doanh nghiệp sử dụng và tương tác trên các thông tin và ứng dụng nghiệp vụ tác nghiệp của doanh nghiệp.
Cổng giao dịch điện tử (Marketplace portals): ví dụ như eBay và ChemWeb, cổng thông tin này là nơi liên kết giữa người bán và người mua.
Cổng thông tin ứng dụng chuyên biệt (Specialized portals): ví dụ như SAP portal, cổng thông tin loại này cung cấp các ứng dụng chuyên biệt khác nhau.
Các tính năng cơ bản của một portal
Tuy có nhiều loại cổng thông tin khác nhau, cung cấp nhiều loại dịch vụ và ứng dụng khác nhau, nhưng tất cả các loại cổng thông tin đều có chung một số tính năng cơ bản. Các tính năng này là được sử dụng như là một tiêu chuẩn để phân biệt giữa cổng thông tin với một website tổng hợp tin tức, với ứng dụng quản trị nội dung web (web content management system - Web CMS), hoặc với một ứng dụng chạy trên nền tảng Web (web application).
Các tính năng cơ bản (bắt buộc phải có) của một portal bao gồm:
Khả năng cá nhân hoá (Customization hay Personalization): cho phép thiết đặt các thông tin khác nhau cho các loại đối tượng sử dụng khác nhau theo yêu cầu. Tính năng này dựa trên hoạt động thu thập thông tin về người dùng và cộng đồng người dùng, từ đó cung cấp các thông tin chính xác tại thời điểm được yêu cầu.
Tích hợp nhiều loại thông tin (Content aggregation): cho phép xây dựng nội dung thông tin từ nhiều nguồn khác nhau cho nhiều đối tượng sử dụng. Sự khác biệt giữa các nội dung thông tin sẽ được xác định qua các ngữ cảnh hoạt động của người dùng (user-specific context), ví dụ như đối với từng đối tượng sử dụng sau khi thông qua quá trình xác thực thì sẽ được cung cấp các thông tin khác nhau, hoặc nội dung thông tin sẽ được cung cấp khác nhau trong quá trình cá nhân hoá thông tin.
Xuất bản thông tin (Content syndication): thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, cung cấp cho người dùng thông qua các phương pháp hoặc giao thức (protocol) một cách thích hợp. Một hệ thống xuất bản thông tin chuyên nghiệp phải có khả năng xuất bản thông tin với các định dạng đã được quy chuẩn, ví dụ như RDF (Resource Description Format), RSS (Realy Simple Syndication), NITF (News Industry Text Format) và NewsXML. Ngoài ra, các tiêu chuẩn dựa trên XML cũng phải được áp dụng để quản trị và hiển thị nội dung một cách thống nhất, xuyên suốt trong quá trình xuất bản thông tin. Các tiêu chuẩn dựa trên XML này cho phép đưa ra giải pháp nhanh nhất để khai thác và sử dụng thông tin trên các Web site khác nhau thông qua quá trình thu thập và bóc tách thông tin với các định dạng đã được quy chuẩn.
Hỗ trợ nhiều môi trường hiển thị thông tin (Multidevice support): cho phép hiển thị cùng một nội dung thông tin trên nhiều loại thiết bị khác nhau như: màn hình máy tính (PC), thiết bị di động (Mobile phone, Wireless phone, PDA), sử dụng để in hay cho bản fax…. một cách tự động bằng cách xác định thiết bị hiển thị thông qua các thuộc tính khác nhau. Ví dụ: cùng một nội dung đó, khi hiển thị trên màn hình máy tính thì sử dụng HTML, nhưng khi hệ thống xác định được thiết hiển thị là PDA hay mobile phone, hệ thống sẽ loại bỏ các ảnh có trong nội dung và tự động chuyển nội dung đó sang định dạng WML (Wireless Markup Language) để phù hợp cho việc hiển thị trên màn hình của thiết bị di động.
Khả năng đăng nhập một lần (Single Sign On - SSO): cho phép dịch vụ xuất bản thông tin hoặc các dịch vụ khác của portal lấy thông tin về người dùng khi hoạt động mà không phải yêu cầu người dùng phải đăng nhập lại mỗi khi có yêu cầu. Đây là một tính năng rất quan trọng vì các ứng dụng và dịch vụ trong portal sẽ phát triển một cách nhanh chóng khi xuất hiện nhu cầu, mà các ứng dụng và dịch vụ này tất yếu sẽ có các nhu cầu về xác thực hoặc truy xuất thông tin người dùng.
Quản trị portal (Portal administration): xác định cách thức hiển thị thông tin cho người dùng cuối. Tính năng này không chỉ đơn giản là thiết lập các giao diện người dùng với các chi tiết đồ hoạ (look-and-feel), với tính năng này, người quản trị phải định nghĩa được các thành phần thông tin, các kênh tương tác với người sử dụng cuối, định nghĩa nhóm người dùng cùng với các quyền truy cập và sử dụng thông tin khác nhau.
Quản trị người dùng (Portal user management): cung cấp các khả năng quản trị người dùng cuối, tuỳ thuộc vào đối tượng sử dụng của portal. Tại đây, người sử dụng có thể tự đăng ký trở thành thành viên tại một công thông tin công cộng (như Yahoo, MSN…) hoặc được người quản trị tạo lập và gán quyền sử dụng tương ứng đối với các công thông tin doanh nghiệp. Mặt khác, tuỳ vào từng kiểu portal mà số lượng thành viên có thể từ vài nghìn tới hàng triệu.
Hiện tại phương pháp phân quyền sử dụng dựa trên vai trò (Role-based security) được sử dụng như một tiêu chuẩn để cung cấp thông tin phân quyền sử dụng cho các đối tượng khác nhau trong các portal cũng như các ứng dụng Web.
Thông tin thêm: bài viết này được ông Nguyễn Đức Quỳnh (còn gọi là Quỳnh Nguyễn - Giám đốc điều hành Hanoi Software JSC) lược dịch phần đầu của bài viết "Portal Server Technology" về công nghệ portal đăng trên tạp chí IEEE Internet Computing của tác giả Christian Wege vào tháng 3/2004, đưa ra đại chúng trên Internet vào tháng 7/2004 & tháng 9/2004 tại Diễn đàn TTVNOL và Diễn đàn FOTECH (ĐH Công nghệ - ĐH Quốc Gia Hà Nội), sau đó đặt chính thức ở Diễn đàn Cộng đồng .NET Việt Nam (dot.net.vn), cho đến ngày hôm nay đã có khá nhiều đơn vị/tổ chức và cộng đồng/diễn đàn mạng sử dụng bài viết này như một định nghĩa chuẩn mực về portal.
Nguồn: Công ty CP Phần mềm Hà Nội
zerovn.net
Portal là gì?
Portal hay Cổng thông tin điện tử được hiểu như là một trang web xuất phát mà từ đó người sử dụng có thể dễ dàng truy xuất các trang web và các dịch vụ thông tin khác trên mạng máy tính. Ban đầu khái niệm này được dùng để mô tả các trang web khổng lồ như là Yahoo, Lycos, Altavista, AOL… bởi mỗi ngày có hàng trăm triệu người sử dụng chúng như là điểm bắt đầu cho hành trình “lướt web” của họ. Lợi ích lớn nhất mà portal đem lại là tính tiện lợi, dễ sử dụng. Thay vì phải nhớ vô số các địa chỉ khác nhau cho các mục đích sử dụng khác nhau, thì với một web portal như Yahoo, người dùng chỉ cần nhớ yahoo.com, ở trong đó nhà cung cấp dịch vụ đã tích hợp mọi thứ mà khách hàng cần…
- Bạn bắt đầu hành trình “lướt web” của mình như thế nào?
- Yahoo
- Tại sao lại là Yahoo?
- Đó là một trang Web cho phép ta dễ dàng truy nhập tới mọi thứ ta cần: tìm kiếm thông tin, đọc tin tức, tán gẫu với bạn bè, gửi thiệp, gửi thư điện tử, xem giá chứng khoán, thậm chí mua sắm một thứ gì đó.
- Đúng thế, có rất nhiều trang web như vậy trên mạng, người ta thường gọi chúng là các portal.
Với các đặc tính như ‘chỉ một kết nối’ hay ‘tất cả trong một’ các web portal đã trở thành một đầu mối thông tin cho mọi vấn đề, một thứ la bàn định hướng cho người dùng trong hành trình khám phá kho báu internet rộng lớn.
Ngày nay khái niệm portal không chỉ áp dụng cho các ‘gã khổng lồ truyền thông’ kể trên, nguyên lý một đầu mối cho tất cả đã được áp dụng vào việc nâng cấp, cải tạo các website kiểu cũ, góp phần hình thành nên một không gian portal (portal space) trên mạng internet.
Các nhà cung cấp dịch vụ internet (ISP) xây dựng nên các portal để hỗ trợ khách hàng của mình trong việc sử dụng internet. Các dịch vụ mà họ thường tích hợp vào trong portal của mình là công cụ tìm kiếm, danh mục các trang web được sắp xếp theo một tiêu chí nào đó, trang tin tức điện tử, dịch vụ nhắn tin, phòng chat, hòm thư điện tử hay trang web cá nhân miễn phí … Các portal này cố gắng để tạo ra một thế giới internet thu nhỏ cho các khách hàng, vì thế chúng thường được khuyến cáo như là điểm bắt đầu lý tưởng cho những người mới tìm hiểu về internet.
Khác với mục đích xây dựng portal bao trùm mọi lĩnh vực mà các công ty truyền thông theo đuổi, những cộng đồng chuyên môn trên mạng Internet chỉ muốn xây dựng portal phục vụ cho duy nhất một lĩnh vực mà mình quan tâm. Vẫn với nguyên lý ‘một đầu mối cho tất cả’, các portal này thường đi sâu vào nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau của một vấn đề. Người ta gọi chúng là các portal chuyên môn hay vortal (vertical portal).
Sức hấp dẫn của các portal không chỉ bởi sự tập trung thông tin về một đầu mối, chúng còn có một tính năng quan trọng khác đó là khả năng tương tác thông tin nhiều chiều. Nói một cách khác đi, người dùng không chỉ khai thác thông tin từ portal mà họ còn có thể đưa ra những yêu cầu để được phục vụ. Các portal được xây dựng cho chính phủ, cho chính quyền tỉnh, thành phố là một ví dụ. Ngoài vai trò như một ‘tổng hành dinh trực tuyến’ nơi đóng quân của đầy đủ các sở ban ngành, các portal này còn cho phép người dân làm những việc như đăng ký kinh doanh qua mạng, đăng ký kết hôn qua mạng… thậm chí bỏ phiếu bầu cử qua mạng. Mọi đối tượng sử dụng đều có thể tìm kiếm và khai thác kho thông tin đa dạng này một cách dễ dàng qua một giao diện thống nhất mà không cần biết thông tin này ở đâu, do ai quản lý. Chẳng hạn, người dân có thể tìm thấy và sử dụng ngay dịch vụ hành chính mà họ cần, chứ không phải quan tâm đến cấp chính quyền nào, những cơ quan nào liên quan đến các thủ tục đó.
Song song với sự phát triển của các portal như Yahoo, AOL… Các tập đoàn công nghệ thông tin lớn cũng sử dụng cách tương tự để cải tiến hệ thống thông tin của mình. Họ đã tạo ra những mô hình kiểu mẫu cho việc xây dựng các portal doanh nghiệp (EIP- Enterprise Information Portal). Các portal như thế này trước hết là để phục vụ cho các công việc của doanh nghiệp, mà cụ thể là hỗ trợ các tiến trình truyền thông và tương tác giữa các cá nhân, bộ phận trong doanh nghiệp (B2E – Business to Employee). Một số mô hình EIP của mạng thông tin nội bộ (Business Intranet Portal) cho phép các nhân viên dễ dàng khai thác các nguồn tài nguyên thông tin trong doanh nghiệp đồng thời cho phép truy xuất ra các portal công cộng, các portal chuyên ngành hẹp khác. Portal cộng tác, tạo một môi trường làm việc ảo cho phép các nhân viên có thể làm việc với nhau từ bất cứ đâu. Portal chuyên gia, kết nối các nhân viên dựa trên yếu tố năng lực của từng người… Các ứng dụng đa dạng của portal trong môi trường nội bộ doanh nghiệp là một công cụ không thể thiếu đối với các doanh nghiệp trong thời đại bùng nổ thông tin, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp có nhiều bộ phận, chi nhánh phân bố trong một không gian địa lý rộng. Cũng vẫn trong môi trường ứng dụng là các doanh nghiệp, công nghệ portal còn cung cấp một công cụ giao tiếp hữu hiệu với thế giới bên ngoài. Khái niệm cổng thông tin doanh nghiệp mở rộng (Extended enterprise portal - extranet) nhằm nói tới một trang web cho phép doanh nghiệp thực hiện giao dịch với các khách hàng của mình (B2C) hay với các nhà cung cấp, các đối tác (B2B).
Các doanh nghiệp nhỏ khó có thể tự xây dựng cho mình một portal đầy đủ tiêu chuẩn, tuy nhiên nếu muốn họ vẫn có thể tiến hành các giao dịch qua mạng thông qua các chợ điện tử (e-Marketplace portal). Chợ điện tử là một portal về xúc tiến thương mại, các doanh nghiệp tham gia chợ điện tử như thể tham gia một kỳ triển lãm. Ở đó, các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn thông tin về thị trường, gặp gỡ các khách hàng tiềm năng, các đối tác…
Vai trò của portal là không thể phủ nhận đối với các hoạt động trên mạng internet, đôi khi việc xây dựng nó còn được xem như một thứ ‘mốt thời thượng’. Tuy nhiên cũng cần phải khẳng định rằng việc xây dựng một portal thực thụ là việc không đơn giản. Trong thời gian sắp tới, chúng ta sẽ còn tiếp tục quay trở lại đề tài xây dựng cổng thông tin cho doanh nghiệp.
Nguồn: ChúngTa.com/PCWorld Việt Nam
zerovn.net
Tổng quan về ACTIVE DIRECTORY
PHẦN I: TỔNG QUAN VÀ CÀI ĐẶT ACTIVE DIRECTORY DOMAIN SERVICES (AD DS)
I. Giới thiệu
Để quản lý một hệ thống mạng ta có 2 mô hình: Workgroup và Domain.
Đặc điểm của hệ thống Workgroup:
- Quản lý không tập trung, ví dụ khi cần triển khai policy cho hệ thống ta phải cấu hình trên từng máy.
- Mỗi người sử dụng phải sử dụng nhiều user account cho nhiều nhu cầu, ví dụ người sử dụng phải có hai user: một để logon và một để truy cập tài nguyên trên file server.
- Với 2 đặc điểm trên, ta sẽ rất khó khăn khi quản lý một hệ thống mạng lớn.
Đặc điểm của hệ thống Domain:
- Quản lý theo cấu trúc danh bạ: tất cả các đối tượng (group, user, computer account…) và tài nguyên đều được quản lý tập trong bằng dịch vụ Active Directory (AD)
- Là một mô hình quản lý tập trung, ví dụ 1 policy khi triển khai cùng lúc có thể ảnh hưởng trên nhiều máy hoặc nhiều user account.
- Hỗ trợ Single Sign On, mỗi người sử dụng trong hệ thống chỉ cần một user account cho tất cả các nhu cầu: logon, truy cập tài nguyên, sử dụng e-mail…
Với sự khác nhau giữa 2 hệ thống Workgroup và Domain như trên, để quản lý một hệ thống mạng tập trung chúng ta nên chọn mô hình Domain.
II. Tổng quan về Active Directory Domain Service (AD DS) trên Windows Server 2008
Active Directory Domain Service (AD DS) là trung tâm quản lý và chứng thực cho các đối tượng như: group, user,computer account… AD DS cung cấp tất cả thông tin của một đối tượng cho các dịch vụ cần thiết, ví dụ cung cấp đầy đủ thông tin cho việc chứng thực khi user truy cập tài nguyên.
Khi sử dụng AD DS trên Windows Server 2008, bạn có thể tạo ra một hạ tầng mạng bảo mật, dể dàng quản lý user, computer account và các tài nguyên. Bạn có thể sử dụng AD DS để hỗ trợ cho những ứng liên quan đến Active Directory, chẵng hạn như Microsoft Exchange Server, Active Directory Right Management Services (RMS)…
Cấu trúc Active Directory bao gồm các thành phần: Forest, Tree, Domains và Organizational Units (OUs). Một forest có thể có một hoặc nhiều domain tree và domain, một tree có thể có 1 hoặc nhiều domain. Trong một domain, một server được cài đặt AD DS gọi là Domain Controller, mặc định Domain Controller đầu tiên trên Forest Root Domain (domain đầu tiên trong một forest) lưu trữ Global Catalog. Global Catalog là dịch vụ đảm nhiệm chức năng chứng thực cho các đối tượng trong hệ thống AD. Máy Domain Controller nào lưu trữ Global Catalog thì được gọi là Global Catalog Server. Trong một forest cũng như trong một domain, ta có thể cấu hình nhiều Global Catalog Server để cân bằng tải cho việc chứng thực.
Yêu cầu cài đặt Active Directory Domain Services (AD DS):
- Windows Server 2008.
- Dung lượng ỗ đĩa trống 250 MB, Partition cài Windows phải format NTFS.
- Cấu hình TCP/IP đầy đủ: IP Address, Subnet Mask, Preferred DNS Server.
- Local Administrator có quyền cài đặt Domain Controller đầu tiên trong một Forest.
- Domain Administrator có quyền cài đặt các Domain Controller tiếp theo của một Domain.
- Enterprise Administrator có quyền cài đặt các Domain tiếp theo trong một Forest.
Lưu ý: Active Directory Domain Services (AD DS)có thể cài đặt trên Windows Server 2008 Server Core
Phần I bao gồm các bước:
1. Nâng cấp Domain Controller
2. Cấu hình DNS Server
3. Join Domain
4. Chỉnh Password Policy
5. Tạo OU, Group và Users Account
III. Mô hình

IV. Chuẩn bị
Trong phần I sử dụng các máy Server1, Server2 và WS1, cấu hình TCP/IP cho các máy như trong bảng sau:
Server1:
IP Address:192.168.10.100
Subnet Mask: 255.255.255.0
Gateway: 192.168.10.200
DNS: 192.168.10.100
Server2:
IP Address:192.168.10.101
Subnet Mask: 255.255.255.0
Gateway: 192.168.10.200
DNS: 192.168.10.100
WS1:
IP Address:192.168.10.113
Subnet Mask: 255.255.255.0
Gateway: 192.168.10.200
DNS: 192.168.10.100
V. Thực hiện
1. Nâng cấp Domain Controller
- Tại máy Server1, log on Administrator pasrword P@ssword
- Vào Start\Run, gõ lệnh dcpromo, chọn OK

- Trong hộp thoại Welcome to the Active Directory Domain Services Installation Wizard, đánh dấu chọn ô Use advanced mode installation, chọn Next.

- Hộp thoại Operating System Compatibility, chọn Next

- Trong hộp thoại Choose a Deployment Configuration, chọn Create a new domain in a new forest, chọn Next

- Trong hộp thoại Name the Forest Root Domain, nhập tên MSOpenLab.com, chọn Next

- Hộp thoại Domain NetBIOS Name, giữ mặc định tên MSOPENLAB, chọn Next

- Trong hộp thoại Set Forest Functional Level, chọn chế độ Windows Server 2008 (để sử dụng tất cả tính năng mới của Windows Server 2008 hỗ trợ cho hệ thống Active Directory), chọn Next

- Trong hộp thoại Additional Domain Controller Options, đảm bảo có đánh dấu ô DNS Server, chọn Next.

- Hộp thoại cảnh báo Do you want to continue?, chọn Yes

- Hộp thoại Location for Database, Log Files, and SYSVOL, chọn Next

- Hộp thoại Directory Services Restore Mode Administrator Password, nhập P@ssword vào ô Password và Confirm password, chọn Next

- Trong hộp thoại Summary, chọn Next

- Trong hộp thoại Active Directory Domain Services Installation Wizard, đánh dấu chọn Reboot on completion. Sau khi quá trình nâng cấp hoàn tất, máy Server1 sẽ tự động restart.

2. Cấu hình DNS Server
- Tại máy Server1, logon MSOpenLab\Administrator password P@ssword
- Mở DNS Manager từ Administrative Tools, bung PC13\Forward Lookup Zones\MSOpenLab.com, kiểm tra đã có đầy đủ các sub domain, va đầy đủ DNS record

- Trong cửa sổ DNS Manager, chuột phải Reverse Lookup Zomes chọn New Zone…

- Trong hộp thoại Welcome to the New Zone Wizard, chọn Next

- Hộp thoại Zone Type, chọn Primary zone, đảm bảo có đánh dấu chọn ô Store the zone in Active Directory, chọn Next

- Trong hộp thoại Active Directory Zone Replication Scope, chọn To all DNS server in this forest: MSOpenLab.com, chọn Next.

- Hộp thoại Reverse Lookup Zone Name, chọn IPv4 Reverse Lookup Zone, chọn Nex

- Trong hộp thoại Reverse Lookup Zone Name, nhập 192.168.10 vào ô Network ID, chọn Next

- Hộp thoại Dynamic Update, chọn Allow only secure dynamic updates, chọn Next.

- Trong hộp thoại Completing the New Zone Wizard, chọn Finish

- Mở Command Line, gõ lệnh ipconfig /registerdns để cập nhật Pointer record

- Trong cửa sổ DNS Manager, kiểm tra trong zone 10.168.192.in-addr.arpa đã có đầy đủ Pointer record

3. Join Domain
- Tại máy Server2, log on Administrator password P@ssword, mở System từ Control Pane.

- Trong cửa sổ System, chọn Change settings

- Hộp thoại System Properties, chọn Change

- Hộp thoại Copmputer Name/Domain Changes, chọn Domain, nhập MSOpenLab.com vào ô Domain, chọn OK

- Hộp thoại Windows Security, nhập user name Admistrator password P@ssword, chọn OK

- Hộp thoại Computer Name/Domain Changes, chọn OK

- Hộp thoại Computer Name/Domain Changes, yêu cầu restart máy, chọn OK

- Hộp thoại System Properties, chọn Close

- Hộp thoại Microsoft Windows, chọn Restart Now

Tương tự, join máy WS1 vào domain.
4. Chỉnh Password Policy
Lưu ý: Để làm quen với cách chỉnh Policy trên hệ thống domain trong bài viết sẽ hướng dẩn các bạn cách chỉnh Password Policy để đặt được password đơn giản cho user. Các bạn có thể không cần thực hiện bước này nếu không có nhu cầu.
- Tại máy Server1, mở Group Policy Management từ Administrative Tools, bung Forest\Domain\MSOpenLab.com\Group Policy Object, chuột phải Default Domain Policy chọn Edit

- Trong cửa sổ Group Policy Management Editor, bung Computer Configuration\Policies\Windows Settings\Security Settings\Account Policies\Password Policy, chỉnh các policy về giá trị 0 và Disable như trong hình.

- Tắt tất cả cửa sổ, mở Command line, gõ lệnh gpupdate /force

5.Tạo OU, Group, Users Account
- Tại máy Server1, mở Active Directory Users and Computers từ Administrative Tools, chuột phải MSOpenLab.com chọn New, chọn Organizational Unit

- Trong hộp thoại New Object – Organizational Unit, nhập tên HCM, bỏ dấu chọn Protect container from accidental deletion, chọn OK

- Trong cửa sổ Active Directory Users and Computers, chuột phải OU HCM chọn New, chọn Group

- Trong hộp thoại New Object – Group, nhập tên NhanVien, chọn OK
http://msopenlab.com/lab/AD1/image042.jpg
- Trong cửa sổ Active Directory Users and Computers, chuột phải OU HCM chọn New, chọn User

- Để tạo user U1, nhập thông tin như trong hình, chọn Next

- Nhập 123 vào ô Password và Confirm password, bỏ dấu chọn ô User must change password at next logon, chọn Next, Finish

- Kiểm tra tạo trong Active Directory Users and Computers đã có OU HCM, trong OU HCM có group NhanVien và user U1

- Kiểm tra user U1 logon thành công trên Server2 và WS1
Theo www.hvaonline.net
zerovn.net

























