Chuyển đổi ảnh dạng bitmap thành vector trực tuyến

Nếu thích thưởng thức những đoạn phim flash hẳn bạn cũng biết rằng phần lớn những đoạn phim này được xây dựng với “chất liệu” chủ yếu là những bức ảnh dạng vector - loại định dạng ảnh không phụ thuộc vào độ phân giải, cho phép người xem phóng to, thu nhỏ mà vẫn có cảm giác ảnh rất mịn và không bị méo mó, khác với loại ảnh bitmap (như BMP, JPG hay GIF...).


Ta có thể tạo ra ảnh vector bằng những chương trình chuyên dụng như Macromedia Flash, Macromedia Firework, CorelDRAW, Adobe Illustrator... hoặc sử dụng một công cụ chuyển đổi để có được ảnh vector từ những bức ảnh bitmap. Một trong những công cụ đáp ứng tốt mục đích chuyển đổi ảnh từ dạng bitmap sang vector là VectorMagic. Bạn không cần phải cài đặt thêm phần mềm nào vào máy tính mà chỉ cần một trình duyệt web để khai thác VectorMagic vì đây là một ứng dụng trực tuyến miễn phí đang hoạt động tại địa chỉ http://vectormagic.stanford.edu.

Việc đầu tiên bạn phải làm sau khi truy cập vào trang web trên là chọn một bức ảnh bitmap để upload lên máy chủ. Hãy nhắp nút Browse... để chọn ảnh rồi nhắp nút Upload. Khi bức ảnh bitmap được copy lên máy chủ, chương trình sẽ tự động nhận dạng bức ảnh và yêu cầu bạn xác nhận lại bức ảnh đã được upload là loại ảnh được chụp bằng máy ảnh hay loại được thiết kế bằng các chương trình đồ họa. Bước này rất quan trọng vì sẽ quyết định đến chất lượng của bức ảnh vector do chương trình tạo ra. Nếu không tự tin lắm, bạn nên chọn tùy chọn có dòng chữ “We believe the image to be of this type” trước khi nhắp nút Next. Tiếp theo, chương trình sẽ để bạn chọn mức độ chất lượng của bức ảnh vector được xuất ra là High, Medium hoặc Low. Khi đã chọn xong, bạn nhắp nút Next và chờ một thời gian cho VectorMagic làm công việc chuyển đổi.

Sau khi chuyển đổi, VectorMagic cho phép người dùng tải ảnh vector về với các định dạng EPS, SVG và PNG. Trước khi download, bạn còn có thể nhắp nút Edit Result, sử dụng trình xử lý ảnh mini của VectorMagic để chỉnh sơ lại bức ảnh. Dịch vụ “vector hóa” ảnh bitmap này không bắt buộc bạn phải đăng ký trước khi sử dụng nhưng nếu có một tài khoản tại đây, bạn sẽ được cấp một không gian để lưu trữ những bức ảnh đã được xử lý.

Nguồn: http://www.baocantho.com.vn
zerovn.net

Khái niệm về CAM, DVDRIP, R5, DVDSCR

Đây là một số FAQ có thể rất có ích cho những người download phim trên mạng, giúp có cái nhìn rõ hơn về các phiên bản Telesync, Cam, Screener,..

CAM
Bản Cam là bản copy từ phim chiếu rạp, thường được thu bằng Camera kỹ thuật số. Một số trường hợp thuận lợi thì dùng được giá đỡ nhưng rất hiếm, vì thế bản Cam thường bị rung và đôi khi được quay từ góc ( kô trực diện ). Âm thanh được thu trực tiếp từ microphone của camera, nên đôi khi sẽ bị trộn lẫn với tiếng của khán giả. Chất lượng rất thấp.

TELESYNC (TS)
Thiết bị dùng tương tự như Cam nhưng dùng thiết bị thu âm rời nên chất lượng âm thanh tốt hơn bản Cam, đôi khi bản TS được thu từ rạp trống hay từ buồng chiếu với một camera chuyên nghiệp. Nên kiểm tra thử sample trước khi quyết định download toàn bộ phim.

TELECINE (TC)
Máy Telecine sẽ copy phim một cách số hóa từ cuộn phim nhựa. Âm thanh và hình ảnh rất tốt, tuy nhiên sẽ phụ thuộc vào chất lượng của máy. Chất lượng chấp nhận được.

SCREENER (SCR)
Bản thử của băng VHS, thường được đưa tới các tiệm cho thuê hay những nơi xem thử. Tỉ lệ thường là 4:3 (full screen), đôi khi trong phim xuất hiện dòng chữ cảnh báo ( copyright và anti-copy telephone number ). Phần lớn bản SCR được chuyển thành VCD ( chất lượng tương đương VCD)

DVD-SCREENER (DVDSCR)
Tương tự như SCR nhưng được chép vào DVD. ( chất lượng tương đương SVCD hay DivX/XviD)

DVDRip
Phiên bản copy của DVD phát hành, chất lượng tốt hơn bản DVDSCR.

VHSRip
Bản copy từ băng VHS.

TVRip
Bản thu từ TV.

Thông thường DVD phim được phát hành sau khoảng 1 tháng kể từ khi phim được chiếu rạp. Đôi khi ở VN phim mới được bán dưới dạng DVD nhưng được chép từ các bản TS hay TC ( bản DVD chính thức chưa phát hành thì ở mình sao có được ), khi đó nên kiểm tra trước khi mua

Một số định dạng :
VCD
Định dạng mpeg1, với bitrate cố định là 1150kbit ở độ phân giải 352x240 (NTCS). VCD được thu từ các nguồn chất lượng thấp (Cam/TS/TC/Screener/TVrip(analogue)) để giảm dung lượng file. ( thường 1 CD chép được 1 phim)

SVCD
Định dạng mpeg2 (giống định dạng của DVD), cho phép bitrate tới 2500kbit ở độ phân giải 480x480 (NTCS). Thường khoảng 35-60 phút cho mỗi CD.

DivX/XviD
Bản nén từ DVD, có thể nén 2 giờ phim chất lượng tốt vào một đĩa CD. Chất lượng tốt và dung lượng nhỏ. ( cần cài thêm bộ phần mềm giải nén để xem phim trong máy tính )

DVD-R
Dạng DVD thông dụng, chứa 4.7GB data cho mỗi mặt ( hiện nay cũng có loại DVD 2 mặt).

Nguồn: megasharesvn.com
zerovn.net

Cấu hình hệ thống email sử dụng Google Apps

Google cung cấp rất nhiều dịch vụ cho khách hàng, trong đó có dịch vụ google apps. Khi đã có được tài khoản trên google apps, bạn sẽ có trong tay rất nhiều thứ như: google calendars, google talk, google Site, google docs, google start page, google mail. Trong đó, google mail là một dịch vụ có lợi nhất và có thể triển khai ở dễ dàng cho các doanh nghiệp và người dùng cá nhân. Trong bài viết này sẽ đề cập đến việc thiết lập một tài khoản trong google apps và cách triển khai một hệ thống mail server.

Dịch vụ Google apps có thể đăng ký theo 2 dạng có phí và không phí. Bài viết này sẽ triển khai theo hướng Standart Edition (phiên bản miễn phí).

CẤU HÌNH VÀ CÀI ĐẶT MAIL ONLINE - OFFLINE

1. Mail Online:
• Ưu điểm:
- Có thể nhận và gửi e-mail qua Web và Mail Client
- Sử dụng địa chỉ e-mail dưới domain của công ty mình thể hiện tính chuyên nghiệp.
- Không cần người quản trị.
- Chi phí thấp.
• Nhược điểm:
- Chỉ có thể duyệt mail nơi có internet.
- Khi các nhân viên muốn gửi nhận mail cho nhau thì mail phải đi ra ngoài internet rồi lại được tải về. Đối với những mail có dung lượng lớn thì vài chục MB đến vài trăm MB thì như vậy sẽ tốn băng thông rất lớn.

2. Mail Offline:
• Ưu điểm:
- Khi gửi mail trong nội bộ có thể đính kém những file lớn.
• Nhược điểm:
- Do mail phải forward vào một POP account nào đó nên cần phải có sự ổn định của Mail Server trên Internet để lưu giữ mail. Account POP nên có dung lượng đủ để chứa hết mail tại thời điểm chưa lấy về. (Nhất là khi đường truyền tại cty bị down cả ngày - nếu chưa lấy sẽ tràn hộp thư).
- Cần có IP tĩnh.
- Cần cấu hình domain
- Phải tốn tiền mua server.
- Phải có người quản trị.

Như vậy tùy nhu cầu mỗi người mà sẽ lưa chọn cho mình hệ thống mail phù hợp nhất

PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG:

Mail Online:
Người quản trị domain sau khi đăng ký domain với google app, sẽ tạo cho mỗi user một tài khoản trên google app. Sau khi tạo thì người sử dụng có toàn quyền trên tài khoản của mình và mail khi gửi tới sẽ được gửi thẳng tới tài khoản mail của người sử dụng.

Mail Offline:
Ngược lại với mail online, sau khi đăng ký domain với google app, chúng ta sẽ tạo một tài khoản lưu trữ mail hay còn gọi là tài khoản catching-all (cũng có thể lấy chỉnh tài khoản quản trị để làm tài khoản catching).Sau đó chúng ta sẽ dựng một mail server trong nội bộ, dùng mail server này kết nối tới tài khoảng catching-all để lấy mail về và phân phát đến các user trong nội bộ.

Để cấu hình chúng ta cần có một domain. Sau khi đã có domain, bước kế tiếp chúng ta sẽ vào google để đăng ký dịch vụ google apps tại đây:

email with google app
Bước kế tiếp chúng ta sẽ điền tên domain cần khai báo và chọn "Administrator: I own or control this domain".
Ở trang "Setup – Create your first administrator account", bạn sẽ khai báo các thông số dành cho người quản trị.
email with google app

Sau khi đã đăng ký tài khoản thành công google, bạn phải xác thực với google quyền sở hữu tài khoản đó bằng 2 cách là "upload a HTML file" hoặc "Change your CNAME record"

email with google app

Nếu bạn có 1 web hosting thì có thể sử dụng cách 1 là "upload a HTML file". Nếu không có web hosting chúng ta sẽ sử dụng cách 2 đó là "Change your CNAME record". Ở đây mình sẽ chọn "Change your CNAME record".

email with google app

Ở bước này Google yêu cầu bạn phải vào trang quản lý domain để cấu hình CNAME record cho tên miền của bạn trỏ về Google để Google có thể xác thực với các thông số mà Google đã cung cấp.Đến đây bạn đã hoàn tất cấu hình cho việc khai báo các thông số ban đầu trên Gmail server.

CÀI ĐẶT MAIL ONLINE

Đăng nhập vào tài khoản người dùng quản trị, chọn tab User account -> Create a new user. Chúng ta có thể tạo từng user hoặc chọn "Create a Multiple user" để tạo nhiều user

email with google app

Bây giờ user có thể check mail thông qua webmail hoặc các mail client với giao thức pop3 hoặc IMAP. Như vậy việc cái đặt và cấu hình mail online đã hoàn thành.

CÀI ĐẶT MAIL OFFLINE

Mô hình: Một user A bên ngoài muốn gửi mail cho user B của cty XYZ. Mail sẽ được gửi tới tài khoản của user C (đã được bật tính năng catching-all). Mail server của cty sẽ kết nối với Gmail server bằng tài khoản của user C để download thư của user B về Mail server và phân phối thư đến user B

Để thực hiện chúng ta cần xây dựng hệ thống offline mail server để kết nối đến Gmail server. Có thể sử dụng mail exchange hoặc mdaemon.

Đầu tiên chúng ta cần cấu hình Primery Domain:

email with google app

Cấu hình DNS

email with google app

Cấu hình DomainPOP

email with google app

Mặc nhiên, Google yêu cầu khi kết nối đến user catching-all trên Gmail server phải kết nối bằng giao thức pop3s mà mdaemon lại không hỗ trợ giao thức pop3s. Vì vậy chúng ta sẽ cài thêm phần mềm thứ 3 để mã hóa từ offline mail server đến Gmail server. Ở đây chúng ta sẽ sử dụng phần mềm Stunnel.

Sau khi cài đặt stunnel, chúng ta sẽ vào thư mục cài đặt C:\Program files\stunnel\ để cấu hình file stunnel.conf

email with google app

Dòng accept: stunnel sẽ tạo ra một phiên mã hóa và mở ra 1port trên IP Local, mDaemon sẽ kết nối đến port mà stunnel đã quy định.

Dòng connect: sẽ kết nối đến server Gmail thông qua port tương ứng mà Gmail quy định

Bây giờ user có thể check mail thông qua các mail client với giao thức pop3 hoặc IMAP.

zerovn.net

Download bản update offline cho các trình Anti-virus

Bạn muốn update offline cho các trình diệt Virus của mình , hãy coi Topic này ha . Bạn sẽ tìm được những gì mà bạn cần :

I - KAV , KIS :


ver 2009:
Visit here
ver 5.0,6.0,7.0 :
http://support.kaspersky.com/faq/?qid=193238849 (ver 5)
http://support.kaspersky.com/faq/?qid=208279232 (ver 6)
http://support.kaspersky.com/kis7/update?qid=208279442 (ver 7)

II -BitDefender:

ver 2008 :
http://www.bitdefender.com/site/view/Desktop-Products-Updates.html

Tổng quan về Active Directory Federation Services

Active Directory Federation Services là gì?

Active Directory Federation Services (AD FS) là tính năng đã được giới thiệu đến trong Windows Server 2003 R2, tính năng này cung cấp giải pháp nhận dạng truy cập. Nó cho phép các trình duyệt trên client, bên trong hoặc bên ngoài mạng của bạn có khả năng truy cập một lần (Single-Sign-On (SSO)) vào các ứng dụng dựa trên Web. Tuy nhiên bạn cũng cần lưu ý rằng AD FS chỉ làm việc cho các ứng dụng nền tảng Web. AD FS có thể được sử dụng trong việc cấu hình Web hoặc các môi trường SharePoint. Nó cũng rất hữu dụng khi một công ty nào đó có các máy chủ web nằm trong một DNZ hoặc trên một hãng hosting từ xa hoặc đối tác kinh doanh và muốn kiểm soát các thông tin quan trọng đối với các ứng dụng web của họ từ Active Directory bên trong.

Những điểm mới trong AD FS của Windows Server 2008

Vậy những gì là mới của AD FS trong Windows Server 2008 khi mang so sánh với Windows Server 2003 R2?

AD FS vẫn là một công nghệ tương đối mới của Microsoft và đây là thế hệ thứ hai của sản phẩm này. Windows Server 2008 có một số tính năng mới cho AD FS, các tính năng này không có sẵn trong Windows Server 2003 R2. Các tính năng mới này sẽ tạo điều kiện dễ dàng trong quản trị và mở rộng sự hỗ trợ cho các ứng dụng chính của Microsoft.

Tổng quan về một số tính năng mới:

* Cải thiện về vấn đề cài đặt:

Wizard cài đặt của AD FS gồm một role máy chủ trong Windows Server 2008 và các kiểm tra hợp lệ hóa máy chủ. Server Manager trong Windows Server 2008 sẽ tự động liệt kê và cài đặt tất cả các dịch vụ mà AD FS yêu cầu trong quá trình cài đặt AD FS role (ASP.NET, IIS,..).

* Cải thiện về sự hỗ trợ:

Phiên bản mới của AD FS đã được tích hợp chặt chẽ hơn với Active Directory Rights Management Services (AD RMS) và Microsoft Office SharePoint Server 2007 (MOSS). MOSS 2007 hiện hỗ trợ khả năng đăng nhập một lần đã được tích hợp trong AD FS. AD FS hỗ trợ thành viên MOSS 2007 và các nhà cung cấp role, điều đó có nghĩa rằng bạn có thể cấu hình MOSS 2007 với tư cách là một ứng dụng thân thuộc bên trong AD FS và sau đó quản trị bất kỳ site này của SharePoint bằng điều khiển truy cập dựa trên role và thành viên.

* Quản trị tốt hơn:

AD FS đã được cải thiện bằng một chức năng import và export chính sách mới, giúp giảm tối thiểu những vấn đề cấu hình trên đối tác.

AD FS làm việc như thế nào?

Active Directory Federation Services (AD FS) cung cấp các dịch vụ quản lý nhận dạng rộng rãi, cho phép các công ty lớn mở rộng được cơ sở hạ tầng của họ cho các đối tác tin cậy và khách hàng. AD FS có 3 khả năng chính dưới đây:

* Thẩm định mạng nội bộ mở rộng (Extranet)
* Cơ chế đăng nhập một lần dựa trên Web
* Các dịch vụ nhận dạng rộng cho các ứng dụng web dựa trên IIS.

AD FS được thiết kết để có thể được triển khai trong các tổ chức lớn và trung bình có những điều kiện sau:

* Ít nhất một dịch vụ thư mục (directory): Active Directory Domain Services (AD DS) hoặc Active Directory Lightweight Directory Services (AD LDS)
* Các máy tính nằm trong miền
* Các máy tính đang chạy trên nhiều nền tảng hệ điều hành khác nhau
* Các máy tính được kết nối Internet
* Một vài ứng dụng dựa trên Web

Tất cả việc truyền thông từ Active Directory đến AD FS đều được mã hóa và tất cả các truyền thông từ các client đến AD FS cũng đều được mã hóa SSL.

Những lợi ích đem lại trong môi trường rộng đó là mỗi công ty liên tục có thể quản lý được sự phân biệt với chính nó, nhưng mỗi công ty cũng có thể đặt dự án một cách bảo đảm và chấp nhận sự phân biệt với các tổ chức khác.

Các Role trong AD FS

AD FS trong Windows Server 2008 có một số role khác, phụ thuộc vào các yêu cầu của tổ chức mà bạn có thể triển khai máy chủ đang chạy một hoặc nhiều role AD FS.

Tổng quan về các role này:

* Dịch vụ Federation:

Dịch vụ Federation có thể được sử dụng bởi một hoặc nhiều máy chủ federation để chia sẻ một chính sách nhất quán nào đó. Các máy chủ này được sử dụng để định tuyến các yêu cầu thẩm định từ các tài khoản người dùng trong những tổ chức khác hoặc trừ các client được đặt trên Internet.

* Federation Service Proxy:

Federation Service Proxy là một proxy cho dịch vụ Federation trong mạng vành đai (DMZ). Federation Service Proxy sử dụng các giao thức WS-Federation Passive Requestor Profile (WS-F PRP) để chọn thông tin của người dùng từ các trình duyệt máy khách và gửi thông tin này đến dịch vụ Federation.

* Claims-aware agent:

Claims-aware agent được cài đặt trên máy chủ Web để cấu hình ứng dụng claims-aware. Nó cũng cần thiết để cho phép truy vấn các ưu sách thẻ bảo mật AD FS. Ứng dụng claims-aware là một ứng dụng ASP.NET của Microsoft hoặc một ứng dụng chuẩn giống như MOSS 2007.
* Tác nhân dựa trên thẻ
Tác nhân thẻ có thể đựợc cài đặt trên một máy chủ Web cấu hình ứng dụng thẻ của Windows NT. Nó cần thiết để hỗ trợ cho việc chuyển đổi từ thể bảo mật AD FS sang mức nhân cách hóa. Ứng dụng thẻ của Windows NT là ứng dụng sử dụng các cơ chế thẩm định dựa trên Windows.

AD FS và Server Core

Active Directory Federation Services roles không nằm trong Server Core. Nó phần nào phụ thuộc vào ASP.NET, một nền tảng không có trong Server Core.

AD FS và sự phát triển

AD FS là một tính năng có thể giúp các chuyên gia phát triển tạo các ứng dụng web. AD FS cũng có thể là chìa khóa trong việc cung cấp truy cập bên ngoài an toàn đối với các ứng dụng Web của bạn. Nó cũng có thể được sử dụng với Active Directory Lightweight Directory Services (AD LDS) với tư cách là một bộ cung cấp nhận dạng cho việc chứng thực và Windows Authorization Manager cho việc kiểm soát chính sách truy cập, cung cấp giải pháp hoàn tất để mở rộng các ứng dụng Web cho các tổ chức tin cậy.

Active Directory Lightweight Directory Services

Active Directory Lightweight Directory Services (AD LDS) trước đây được biết đến với tên Active Directory Application Mode (ADAM), là một chế độ đặt biệt của AD trong đó, các dịch vụ thư mục được cấu hình chỉ lưu giữ và sao chép các thông tin liên quan đến ứng dụng. Chế độ này cung cấp khả năng lưu trữ và truy cập cho các ứng dụng, sử dụng các giao diện mà quản trị viên và các chuyên gia phát triển đã thân thuộc.

AD LDS là một tính năng lưu trữ và truy vấn dữ liệu dịch vụ thư mục của LDAP cho các ứng dụng đã thư mục, không phụ thuộc vào những yêu cầu cho AD DS. Nó cũng không lưu trữ các nguyên lý bảo mật vẫn có trong AD DS.

Các chuyên gia phát triển có thể sử dụng AD LDS để làm việc với các thông tin của Active Directory trong các ứng dụng của họ. AD FS là một trong những ứng dụng sử dụng AD LDS để lưu các thông tin quan trọng này.

Kết luận

Active Directory Federation Services (AD FS) là một tính năng mạnh của Windows Server 2008, nó cho phép các tổ chức có được khả năng linh hoạt trong việc kết nối các ứng dụng Web và quản lý các thông tin về tài khoản.

zerovn.net